Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 442): Chỉ báo dao động giá theo phần trăm PPO (phần i)

Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 442): Chỉ báo dao động giá theo phần trăm PPO (phần i)

Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 442): Chỉ báo dao động giá theo phần trăm PPO (phần i)

Mạc An

Junior Mod
Thành viên BQT
Trial mod
19,712
89,528
Thread cover
data/assets/threadprofilecover/bobvolman-2026-05-15T113017-1778819427.389-1778819427.png
Chủ đề liên quan
48388,3546,87847,87684
Tóm tắt bài trước:
  • Khối lượng giao dịch cân bằng (OBV) là một chỉ báo đánh giá áp lực mua và bán của một chứng khoán bằng cách phân tích khối lượng tích lũy. Nó cộng thêm khối lượng vào những ngày giá tăng và trừ đi vào những ngày giá giảm. OBV ban đầu được phát triển bởi Joe Granville, và ông lần đầu tiên giải thích nó trong cuốn sách năm 1963 của mình, "Granville's New Key to Stock Market Profits" (Chìa khóa mới của Granville để kiếm lợi nhuận trên thị trường chứng khoán). OBV đáng chú ý vì nó là một trong những chỉ số sớm nhất theo dõi dòng chảy vào và ra của khối lượng giao dịch. Bằng cách so sánh OBV với diễn biến giá, các nhà phân tích có thể phát hiện ra sự khác biệt có thể dự báo sự thay đổi giá trong tương lai, hoặc họ có thể sử dụng OBV để xác nhận các xu hướng giá hiện có.
  • Đường Khối lượng giao dịch cân bằng (OBV) chỉ đơn giản là tổng tích lũy của khối lượng dương và âm. Khối lượng của một kỳ được coi là dương khi giá đóng cửa cao hơn giá đóng cửa của kỳ trước và được coi là âm khi giá đóng cửa thấp hơn giá đóng cửa của kỳ trước.
    Nếu giá đóng cửa cao hơn giá đóng cửa trước đó thì: OBV hiện tại = OBV trước đó + Khối lượng hiện tại
    Nếu giá đóng cửa thấp hơn giá đóng cửa trước đó thì: OBV hiện tại = OBV trước đó - Khối lượng hiện tại
    Nếu giá đóng cửa bằng giá đóng cửa trước đó thì: OBV hiện tại = OBV trước đó (không thay đổi)
  • Trong bảng dưới, số liệu khối lượng đã được làm tròn và hiển thị theo đơn vị nghìn. Nói cách khác, 8.200 có nghĩa là đã có 8.200.000 hoặc 8,2 triệu cổ phiếu được giao dịch. Đầu tiên, chúng ta phải xác định xem cổ phiếu đóng cửa tăng (+1) hay giảm (-1). Con số này hiện được sử dụng làm hệ số nhân khối lượng để tính toán khối lượng dương hoặc âm. Cột cuối cùng (OBV) tạo thành tổng tích lũy cho khối lượng dương/âm. Vì OBV phải bắt đầu từ đâu đó, giá trị đầu tiên (8200) chỉ đơn giản bằng khối lượng dương/âm của kỳ đầu tiên. Biểu đồ bên dưới hiển thị giá cổ phiếu với khối lượng và OBV.
  • Granville đưa ra giả thuyết rằng khối lượng giao dịch đi trước giá. OBV tăng khi khối lượng giao dịch vào những ngày tăng vượt trội hơn khối lượng giao dịch vào những ngày giảm. OBV giảm khi khối lượng giao dịch vào những ngày giảm mạnh hơn. OBV tăng phản ánh áp lực khối lượng tích cực có thể dẫn đến giá cao hơn. Ngược lại, OBV giảm phản ánh áp lực khối lượng tiêu cực có thể báo trước giá thấp hơn. Granville lưu ý trong nghiên cứu của mình rằng OBV thường di chuyển trước giá. Dự kiến giá sẽ tăng nếu OBV tăng trong khi giá đi ngang hoặc giảm. Dự kiến giá sẽ giảm nếu OBV giảm trong khi giá đi ngang hoặc tăng. Giá trị tuyệt đối của OBV không quan trọng. Thay vào đó, các nhà phân tích biểu đồ nên tập trung vào các đặc điểm của đường OBV. Đầu tiên, xác định xu hướng của OBV. Thứ hai, xác định xem xu hướng hiện tại có phù hợp với xu hướng của chứng khoán cơ sở hay không. Thứ ba, tìm kiếm các mức hỗ trợ hoặc kháng cự tiềm năng. Khi bị phá vỡ, xu hướng của OBV sẽ thay đổi và những sự phá vỡ này có thể được sử dụng để tạo ra tín hiệu. Ngoài ra, hãy lưu ý rằng OBV dựa trên giá đóng cửa. Do đó, giá đóng cửa nên được xem xét khi tìm kiếm sự phân kỳ hoặc sự phá vỡ các mức hỗ trợ/ kháng cự. Cuối cùng, sự tăng đột biến về khối lượng đôi khi có thể làm rối loạn chỉ báo bằng cách gây ra một biến động mạnh cần thời gian ổn định.
  • Tín hiệu phân kỳ tăng và giảm có thể được sử dụng để dự đoán sự đảo chiều xu hướng. Những tín hiệu này thực sự dựa trên lý thuyết rằng khối lượng đi trước giá. Phân kỳ tăng hình thành khi OBV di chuyển cao hơn hoặc tạo đáy cao hơn ngay cả khi giá di chuyển thấp hơn hoặc tạo đáy thấp hơn. Phân kỳ giảm hình thành khi OBV di chuyển thấp hơn hoặc tạo đáy thấp hơn ngay cả khi giá di chuyển cao hơn hoặc tạo đỉnh cao hơn. Sự phân kỳ giữa OBV và giá sẽ cảnh báo các nhà phân tích biểu đồ rằng sự đảo chiều giá có thể sắp xảy ra.

Chỉ báo dao động giá theo phần trăm (Percentage Price Oscillator - PPO) là gì?


Chỉ báo dao động giá theo phần trăm (PPO) là một chỉ báo động lượng đo lường sự khác biệt giữa hai đường trung bình động dưới dạng phần trăm của đường trung bình động lớn hơn. Nó được sử dụng để xác định hướng xu hướng giá, động lượng và các tín hiệu mua và bán tiềm năng.

Cũng giống như chỉ báo MACD, PPO được hiển thị bằng một đường tín hiệu, một biểu đồ cột và một đường trung tâm. Các tín hiệu giao dịch được tạo ra khi các đường tín hiệu giao nhau, các đường trung tâm giao nhau hoặc dựa trên sự phân kỳ. Các tín hiệu này tương tự như các tín hiệu liên quan đến MACD, vì vậy chúng ta sẽ tập trung vào một vài điểm khác biệt giữa hai chỉ báo này.

Thứ nhất, các chỉ số PPO không phụ thuộc vào mức giá của chứng khoán.

Thứ hai, các chỉ số PPO của các chứng khoán khác nhau có thể được so sánh, ngay cả khi có sự khác biệt lớn về giá.


Làm thế nào để tính toán chỉ báo dao động giá theo phần trăm?


Chỉ báo dao động giá phần trăm (PPO): {( EMA 12 ngày - EMA 26 ngày)/ EMA 26 ngày} x 100

Đường tín hiệu: EMA 9 ngày của PPO

PPO Histogram: PPO - Đường tín hiệu

Trong khi MACD đo lường sự khác biệt tuyệt đối giữa hai đường trung bình động, PPO biến điều này thành giá trị tương đối bằng cách chia sự khác biệt cho đường trung bình động chậm hơn ( EMA 26 ngày). PPO là giá trị MACD chia cho đường trung bình động dài hơn. Kết quả được nhân với 100 để dịch chuyển dấu thập phân hai vị trí. Bảng dưới đây hiển thị cổ phiếu Intel (INTC) với các giá trị của EMA 12 ngày, EMA 26 ngày, MACD và PPO. Giá cổ phiếu Intel ở mức thấp khoảng 20 đô la và giá trị MACD dao động từ -44 cent đến +64 cent. PPO thể hiện điều này dưới dạng phần trăm với các giá trị dao động từ -2,01 đến +2,85. Việc so sánh các mức giá theo thời gian dễ dàng hơn với tỷ lệ phần trăm. -2,01 tương đương với -2,01%, trong khi +2,85 tương đương với +2,85%.

Nhấp vào link bên cạnh để tải xuống ví dụ bảng tính: https://chartschool.stockcharts.com...al-indicators/percentage-price-oscillator-ppo

1778819249662.png

PPO - Biểu đồ 1​

Chỉ báo PPO tiêu chuẩn dựa trên đường trung bình động hàm mũ 12 ngày ( EMA) và EMA 26 ngày, nhưng các tham số này có thể được thay đổi theo sở thích của nhà đầu tư hoặc nhà giao dịch. Giá đóng cửa được sử dụng để tính toán các đường trung bình động và do đó, tín hiệu PPO nên được đo lường dựa trên giá đóng cửa. Đường EMA 9 ngày của PPO được vẽ dưới dạng đường tín hiệu để xác định các điểm tăng và giảm trong chỉ báo.

Nguồn: Stockcharts​

 
 

Giới thiệu sách Trading hay
Nhật Ký Giao Dịch Thực Chiến của Phù Thủy Thị trường Tài Chính

Sách chia sẻ 05 tháng giao dịch thực tế trên thị trường tài chính, sử dụng Price Action và Mô hình Biểu đồ của Phù thủy trader Peter Brandt, người có gần 50 năm kinh nghiệm trading và đạt lợi nhuận bình quân 68% lợi nhuận mỗi năm

BÌNH LUẬN MỚI NHẤT

AdBlock Detected

We get it, advertisements are annoying!

Sure, ad-blocking software does a great job at blocking ads, but it also blocks useful features of our website. For the best site experience please disable your AdBlocker.

Back
Bên trên

Miễn trừ trách nhiệm

Tất cả nội dung trên website này đều vì mục đích cung cấp thông tin và không phải lời khuyên đầu tư.

Tại Việt Nam, giao dịch CFD forex có các rủi ro nhất định, trong đó bao gồm rủi ro về pháp lý. Độc giả nên tìm hiểu kỹ trước khi đưa ra quyết định tham gia.