Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 497): Tất tần tật về Lý thuyết Dow (phần i)

Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 497): Tất tần tật về Lý thuyết Dow (phần i)

Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 497): Tất tần tật về Lý thuyết Dow (phần i)

Mạc An

Junior Mod
Thành viên BQT
Trial mod
19,845
89,704
Thread cover
data/assets/threadprofilecover/bobvolman-2026-07-09T111258-1783570478.496-1783570478.png
Chủ đề liên quan
20184,14147,84675,84670
Tóm tắt bài trước:
  • Được phát triển bởi Larry Williams, Williams %R là một chỉ báo động lượng (momentum indicator) và là phiên bản nghịch đảo của Fast Stochastic Oscillator. Còn được gọi tắt là %R, chỉ báo này phản ánh mức giá đóng cửa so với mức đỉnh cao nhất trong một chu kỳ thời gian nhất định (look-back period). Ngược lại, chỉ báo Stochastic Oscillator lại so sánh giá đóng cửa với mức đáy thấp nhất. %R điều chỉnh sự nghịch đảo này bằng cách nhân giá trị thô với -100. Nhờ đó, đường line của Fast Stochastic Oscillator và Williams %R chạy giống hệt nhau, chỉ khác biệt về thang đo. Williams %R dao động từ 0 đến -100; mức từ 0 đến -20 được coi là vùng quá mua (overbought), trong khi từ -80 đến -100 là vùng quá bán (oversold). Chẳng có gì ngạc nhiên khi các tín hiệu giao dịch áp dụng cho Stochastic Oscillator cũng hoàn toàn có thể mang sang dùng cho Williams %R.
  • Cách tính Williams %R: Công thức: %R = (Highest High - Close) / (Highest High - Lowest Low) * -100
    Trong đó:
    Lowest Low: Mức đáy thấp nhất trong chu kỳ xem xét.
    Highest High: Mức đỉnh cao nhất trong chu kỳ xem xét.
    %R được nhân với -100 để đảo ngược giá trị và dời dấu thập phân.
    Cài đặt mặc định của Williams %R là 14 chu kỳ – đây có thể là khung ngày, tuần, tháng hoặc các khung thời gian nhỏ hơn trong ngày (intraday). Ví dụ, một chỉ báo %R 14 chu kỳ sẽ sử dụng giá đóng cửa gần nhất, đỉnh cao nhất trong 14 chu kỳ qua và đáy thấp nhất trong 14 chu kỳ qua.
  • Giống như Stochastic Oscillator, Williams %R cho chúng ta thấy vị trí của mức giá đóng cửa tương quan với biên độ đỉnh-đáy (high-low range) trong một khoảng thời gian nhất định. Giả sử mức đỉnh cao nhất là 110, đáy thấp nhất là 100 và giá đóng cửa là 108. Biên độ đỉnh-đáy ở đây là 10 (110 - 100) – đây chính là mẫu số trong công thức tính %R. Lấy đỉnh cao nhất trừ đi giá đóng cửa ta được 2 (110 - 108), sau đó lấy 2 chia cho 10, ta được 0.20. Nhân con số này với -100, ta có giá trị của %R là -20. Nếu giá đóng cửa là 103, Williams %R sẽ là -70 (((110 - 103) / 10) x -100).
  • Đường trung tâm ở mức -50 là một ngưỡng cực kỳ quan trọng anh em cần theo dõi. Vì Williams %R dao động từ 0 đến -100, mức -50 chính là điểm cân bằng ở giữa. Hãy tưởng tượng nó giống như vạch giữa sân trong một trận đấu thể thao. Đội tấn công sẽ có cơ hội ghi bàn cao hơn khi vượt qua phần sân đối phương. Ngược lại, đội phòng thủ sẽ nắm lợi thế chừng nào họ cản được đối phương lấn qua vạch giữa sân này. Khi Williams %R cắt lên trên mức -50, nó phát tín hiệu rằng giá đang giao dịch ở nửa trên của biên độ trong chu kỳ xem xét – một tín hiệu tích cực ngụ ý "cốc nước đang đầy một nửa". Ngược lại, nếu giá cắt xuống dưới -50, nghĩa là giá đang giao dịch ở nửa dưới của biên độ – một tín hiệu kém khả quan cho thấy "cốc nước vơi một nửa". Các mức đọc thấp (dưới -80) báo hiệu giá đang nằm ở gần mức đáy của chu kỳ thời gian đó. Các mức đọc cao (trên -20) báo hiệu giá đang bám sát mức đỉnh. Trong ví dụ về cổ phiếu IBM ở trên, biểu đồ hiển thị ba phạm vi 14 ngày (các vùng màu vàng) với mức giá đóng cửa ở cuối chu kỳ được đánh dấu bằng đường chấm bi đỏ. Williams %R bằng -9 khi giá đóng cửa nằm ngay đỉnh của biên độ. Nó rơi xuống -87 khi giá đóng cửa lùi về sát đáy. Và %R đạt mức -43 khi giá đóng cửa nằm lơ lửng ngay giữa biên độ.
  • Vì là một bộ dao động có giới hạn, Williams %R giúp trader dễ dàng nhận diện các vùng quá mua và quá bán. Chỉ báo này luôn chạy trong khoảng từ 0 đến -100. Cho dù một mã cổ phiếu hay tài sản tăng/giảm nhanh đến mức nào, Williams %R cũng chỉ biến động trong giới hạn này. Theo thiết lập truyền thống, mức -20 được dùng làm ngưỡng quá mua và -80 là ngưỡng quá bán. Anh em hoàn toàn có thể tinh chỉnh các thông số này để phù hợp với chiến lược phân tích và đặc thù biến động của từng loại tài sản. Khi Williams %R 14 ngày có giá trị trên -20, điều đó cho thấy tài sản đang giao dịch sát đỉnh của biên độ giá 14 ngày. Ngược lại, mức dưới -80 xuất hiện khi giá đang lặn ngụp ở vùng đáy của biên độ.
  • Có một điểm cốt lõi anh em cần khắc cốt ghi tâm: tín hiệu quá mua không nhất thiết là phải bán khống (bearish). Một tài sản có thể đi vào vùng quá mua và tiếp tục ở lỳ trong vùng đó khi xu hướng tăng đang cực kỳ mạnh mẽ. Việc giá đóng cửa liên tục neo ở sát đỉnh biên độ cho thấy áp lực mua đang được duy trì rất tốt. Tương tự, tín hiệu quá bán cũng không hẳn là tín hiệu đảo chiều tăng (bullish). Trong một đợt downtrend mạnh, tài sản có thể bị quá bán và cứ nằm mãi ở dưới đáy. Giá đóng cửa liên tục bám đáy là minh chứng cho áp lực bán tháo dai dẳng.
  • Việc chỉ báo không thể quay trở lại vùng quá mua hoặc quá bán là tín hiệu cho thấy động lượng đang thay đổi – và đây thường là điềm báo cho một biến động giá lớn sắp diễn ra. Khả năng liên tục vượt lên trên mức -20 là một sự phô diễn sức mạnh. Suy cho cùng, phải có lực mua thực sự tốt thì mới đẩy được %R vào vùng quá mua. Một khi tài sản đã chứng minh được sức mạnh bằng cách tiến sâu vào vùng này nhiều lần, nhưng sau đó lại bất ngờ thất bại trong việc vượt qua ngưỡng này, nó cho thấy động lượng đang dần hụt hơi và một nhịp sụt giảm có thể sắp ập đến.

Lý thuyết Dow là gì?


Lý thuyết Dow đã tồn tại gần 100 năm qua, nhưng ngay cả trong bối cảnh thị trường biến động mạnh và bị chi phối bởi công nghệ như hiện nay, những thành phần cốt lõi của học thuyết này vẫn giữ nguyên giá trị. Được khởi xướng bởi Charles Dow, sau đó tinh chỉnh bởi William Hamilton và hệ thống hóa bởi Robert Rhea, Lý thuyết Dow không chỉ đề cập đến phân tích kỹ thuậthành động giá, mà còn bao hàm cả triết lý thị trường. Rất nhiều quan điểm và nhận định do Dow và Hamilton đưa ra đã trở thành những chân lý trên Phố Wall. Mặc dù nhiều người có thể cho rằng thị trường thời nay đã khác xưa, nhưng nếu đọc cuốn The Dow Theory của Rhea, bạn sẽ thấy chứng khoán hiện tại vẫn vận động y hệt như cách đây gần một thế kỷ.

1783570234982.png


Ở góc độ tổng quan, Lý thuyết Dow mô tả các xu hướng thị trường và cách chúng thường vận động. Ở góc độ chi tiết hơn, nó cung cấp các tín hiệu để nhận diện và giao dịch theo xu hướng chính của thị trường. Trọng tâm của lý thuyết này là xác định xu hướng của Chỉ số Vận tải Dow Jones (trước đây là Chỉ số Đường sắt) và Chỉ số Công nghiệp Dow Jones, sau đó dùng khối lượng giao dịch (volume) để xác nhận các xu hướng đó. Nếu cả hai chỉ số Dow Jones này cùng di chuyển theo một hướng, ta có thể khẳng định toàn bộ thị trường cũng đang trong xu hướng đó. Các nhà đầu tư có thể sử dụng những tín hiệu này để nhận diện xu hướng chính và giao dịch thuận theo nó.


Bối cảnh ra đời


Charles Dow đã phát triển Lý thuyết Dow từ những phân tích của ông về hành động giá trên thị trường vào cuối thế kỷ 19. Cho đến khi qua đời vào năm 1902, Dow vừa là đồng sở hữu, vừa là biên tập viên của tờ The Wall Street Journal. Dù chưa từng viết một cuốn sách hoàn chỉnh nào về học thuyết này, ông đã chắp bút cho nhiều bài xã luận phản ánh quan điểm cá nhân về giới đầu cơ cũng như vai trò của các chỉ số đường sắt và công nghiệp.

Dù Charles Dow được vinh danh là cha đẻ của Lý thuyết Dow, nhưng S.A. Nelson và William Hamilton mới là những người sau này mài giũa nó thành hình hài như chúng ta biết ngày nay. Nelson đã viết cuốn The ABC of Stock Speculation và là người đầu tiên chính thức sử dụng thuật ngữ "Lý thuyết Dow" (Dow Theory). Hamilton tiếp tục hoàn thiện lý thuyết này qua hàng loạt bài báo trên The Wall Street Journal từ năm 1902 đến 1929. Năm 1922, Hamilton cũng xuất bản cuốn The Stock Market Barometer nhằm giải thích học thuyết này một cách tường tận.

Năm 1932, Robert Rhea tiến thêm một bước trong việc tinh lọc các phân tích của Dow và Hamilton qua cuốn sách The Dow Theory. Rhea đã đọc, nghiên cứu và giải mã khoảng 252 bài xã luận mà Dow (1900-1902) và Hamilton (1902-1929) dùng để truyền tải tư duy thị trường của họ. Trong công trình của mình, Rhea cũng trích dẫn lại cuốn The Stock Market Barometer của Hamilton.

Nội dung về Lý thuyết Dow trong bài viết này được dựa trên cuốn sách của Rhea, nơi ông đã hệ thống hóa các bài viết của Dow và Hamilton thành một tập hợp các giả định và định lý. Ở những phần tiếp, chúng tôi cũng cố gắng liên hệ thực tế của thị trường ngày nay với Lý thuyết Dow để làm rõ góc nhìn của những bậc tiền bối này.

Nguồn: Stockcharts​

 
 

Giới thiệu sách Trading hay
Các Phương Pháp Price Action Kinh Điển

Bộ sách tổng hợp các phương pháp Price Action truyền thống và hiện đại, với các hướng dẫn cụ thể và dễ áp dụng cho nhà giao dịch

BÌNH LUẬN MỚI NHẤT

AdBlock Detected

We get it, advertisements are annoying!

Sure, ad-blocking software does a great job at blocking ads, but it also blocks useful features of our website. For the best site experience please disable your AdBlocker.

Back
Bên trên

Miễn trừ trách nhiệm

Tất cả nội dung trên website này đều vì mục đích cung cấp thông tin và không phải lời khuyên đầu tư.

Tại Việt Nam, giao dịch CFD forex có các rủi ro nhất định, trong đó bao gồm rủi ro về pháp lý. Độc giả nên tìm hiểu kỹ trước khi đưa ra quyết định tham gia.