- 19,845
- 89,704
- Thread cover
- data/assets/threadprofilecover/bobvolman-2026-07-10T120828-1783660114.642-1783660114.png
- Chủ đề liên quan
- 23626,23570,1442
Tóm tắt bài trước:
Trước khi áp dụng Lý thuyết Dow, có một số giả định bạn bắt buộc phải chấp nhận. Rhea khẳng định rằng, để ứng dụng thành công, nhà giao dịch phải tin tưởng những giả định này một cách vô điều kiện.
Giả định đầu tiên là việc thao túng xu hướng chính (primary trend) là điều bất khả thi. Khi một lượng tiền khổng lồ được đổ vào thị trường, cám dỗ thao túng chắc chắn sẽ xuất hiện. Hamilton không phủ nhận việc các nhà đầu cơ, các chuyên gia hay bất kỳ tay to nào có thể thao túng giá. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng họ không thể thao túng được xu hướng chính của toàn thị trường.
Các biến động trong ngày (intraday), qua từng ngày, và thậm chí là các nhịp điểu chỉnh thứ cấp có thể bị thao túng. Những biến động ngắn hạn này – kéo dài từ vài giờ đến vài tuần – dễ dàng bị tác động bởi các tổ chức lớn, giới đầu cơ, tin tức chấn động hoặc tin đồn. Nếu sống ở thời đại này, có lẽ Hamilton sẽ bổ sung thêm các hội nhóm phím hàng và day-trader vào danh sách này.
Hamilton cũng nói thêm rằng các cổ phiếu riêng lẻ hoàn toàn có thể bị làm giá. Tuy nhiên, kịch bản chung của các vụ thao túng thường có chung một kết cục: giá cổ phiếu bị đẩy lên vút chót vót, sau đó sụp đổ và quay trở lại đúng với xu hướng chính của nó. Một vài ví dụ điển hình:
Cổ phiếu PairGain Technology từng tăng phi mã nhờ một trò lừa đảo đăng trên trang web giả mạo Bloomberg. Tuy nhiên, khi sự thật bị phanh phui, cổ phiếu này lập tức rớt giá thê thảm và quay lại xu hướng chính.
Cổ phiếu Books-A-Million vọt từ 3 lên 47 USD sau khi công bố nâng cấp giao diện website. Ba tuần sau, giá rớt xuống quanh mốc 10 và tiếp tục trượt dài.
Năm 1979/1980, anh em nhà Hunt nỗ lực thao túng giá bạc. Bạc đã tăng vọt lên hơn 50 USD/ounce, để rồi rơi tự do xuống mặt đất và tiếp tục thị trường gấu dài hạn sau khi âm mưu thâu tóm thị trường bị vạch trần.
Dù các cổ phiếu này bị thao túng trong ngắn hạn, nhưng xu hướng dài hạn vẫn làm chủ cuộc chơi sau khoảng một tháng. Hamilton chỉ ra rằng, ngay cả khi các mã riêng lẻ bị làm giá, việc thao túng toàn bộ thị trường là điều gần như bất khả thi. Đơn giản vì thị trường quá khổng lồ để bất cứ ai có thể thao túng được.
Giả định thứ hai là thị trường phản ánh tất cả mọi thông tin hiện có. Bất cứ điều gì có thể biết đều đã được chiết khấu vào đường giá. Giá cả đại diện cho tổng hòa mọi hy vọng, nỗi sợ hãi và kỳ vọng của tất cả thành viên tham gia thị trường. Biến động lãi suất, kỳ vọng lợi nhuận, dự phóng doanh thu, bầu cử Tổng thống, kế hoạch ra mắt sản phẩm và mọi thứ khác đều đã được định giá. Những sự kiện bất ngờ chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng thường chúng chỉ ảnh hưởng đến xu hướng ngắn hạn. Xu hướng chính vẫn sẽ không bị lay chuyển.
Biểu đồ của Coca-Cola (KO) dưới đây là một ví dụ khá gần đây về việc xu hướng chính vẫn được giữ nguyên. Xu hướng giảm của Coca-Cola bắt đầu bằng cú rơi mạnh từ vùng giá trên 90. Cổ phiếu này sau đó có nhịp phục hồi theo nhịp đập chung của thị trường vào tháng 10 và tháng 11 năm 1998, nhưng đến tháng 12 lại tiếp tục sụt giảm. Theo Lý thuyết Dow, nhịp phục hồi tháng 10/tháng 11 được gọi là xu hướng thứ cấp (đi ngược lại xu hướng chính). Rất có thể cổ phiếu này chỉ đang "ăn theo" đà tăng chung của toàn thị trường ở thời điểm đó. Tuy nhiên, khi các chỉ số chính liên tục phá đỉnh vào tháng 12, Coca-Cola lại bắt đầu hụt hơi và quay trở lại xu hướng giảm cốt lõi của nó.
Hamilton lưu ý rằng đôi khi thị trường sẽ phản ứng tiêu cực trước một tin tốt. Theo lý giải của ông, điều này rất đơn giản: thị trường luôn nhìn về phía trước. Vào thời điểm tin tức đến tai đám đông, nó đã phản ánh xong vào giá rồi. Điều này giải thích cho câu ngạn ngữ kinh điển trên Phố Wall: " Mua tin đồn, bán sự thật" (Buy the rumor, sell the news). Khi tin đồn bắt đầu rò rỉ, lực mua sẽ nhảy vào đẩy giá lên. Đến khi tin tức chính thức được công bố, giá đã bị đẩy lên quá cao để phản ánh trọn vẹn tin tức đó. Câu chuyện của Yahoo! (YHOO) trước các kỳ báo cáo thu nhập là một ví dụ mẫu mực. Trong ba quý đầu năm 1999, cổ phiếu YHOO liên tục được bơm thổi ngay sát ngày ra báo cáo. Dù kết quả kinh doanh lần nào cũng vượt kỳ vọng, nhưng cổ phiếu lại bốc hơi khoảng 20% trong cùng khoảng thời gian đó.
- Lý thuyết Dow đã tồn tại gần 100 năm qua, nhưng ngay cả trong bối cảnh thị trường biến động mạnh và bị chi phối bởi công nghệ như hiện nay, những thành phần cốt lõi của học thuyết này vẫn giữ nguyên giá trị. Được khởi xướng bởi Charles Dow, sau đó tinh chỉnh bởi William Hamilton và hệ thống hóa bởi Robert Rhea, Lý thuyết Dow không chỉ đề cập đến phân tích kỹ thuật và hành động giá, mà còn bao hàm cả triết lý thị trường. Rất nhiều quan điểm và nhận định do Dow và Hamilton đưa ra đã trở thành những chân lý trên Phố Wall. Mặc dù nhiều người có thể cho rằng thị trường thời nay đã khác xưa, nhưng nếu đọc cuốn The Dow Theory của Rhea, bạn sẽ thấy chứng khoán hiện tại vẫn vận động y hệt như cách đây gần một thế kỷ.
- Ở góc độ tổng quan, Lý thuyết Dow mô tả các xu hướng thị trường và cách chúng thường vận động. Ở góc độ chi tiết hơn, nó cung cấp các tín hiệu để nhận diện và giao dịch theo xu hướng chính của thị trường. Trọng tâm của lý thuyết này là xác định xu hướng của Chỉ số Vận tải Dow Jones (trước đây là Chỉ số Đường sắt) và Chỉ số Công nghiệp Dow Jones, sau đó dùng khối lượng giao dịch (volume) để xác nhận các xu hướng đó. Nếu cả hai chỉ số Dow Jones này cùng di chuyển theo một hướng, ta có thể khẳng định toàn bộ thị trường cũng đang trong xu hướng đó. Các nhà đầu tư có thể sử dụng những tín hiệu này để nhận diện xu hướng chính và giao dịch thuận theo nó.
- Charles Dow đã phát triển Lý thuyết Dow từ những phân tích của ông về hành động giá trên thị trường vào cuối thế kỷ 19. Cho đến khi qua đời vào năm 1902, Dow vừa là đồng sở hữu, vừa là biên tập viên của tờ The Wall Street Journal. Dù chưa từng viết một cuốn sách hoàn chỉnh nào về học thuyết này, ông đã chắp bút cho nhiều bài xã luận phản ánh quan điểm cá nhân về giới đầu cơ cũng như vai trò của các chỉ số đường sắt và công nghiệp. Dù Charles Dow được vinh danh là cha đẻ của Lý thuyết Dow, nhưng S.A. Nelson và William Hamilton mới là những người sau này mài giũa nó thành hình hài như chúng ta biết ngày nay. Nelson đã viết cuốn The ABC of Stock Speculation và là người đầu tiên chính thức sử dụng thuật ngữ "Lý thuyết Dow" (Dow Theory). Hamilton tiếp tục hoàn thiện lý thuyết này qua hàng loạt bài báo trên The Wall Street Journal từ năm 1902 đến 1929. Năm 1922, Hamilton cũng xuất bản cuốn The Stock Market Barometer nhằm giải thích học thuyết này một cách tường tận. Năm 1932, Robert Rhea tiến thêm một bước trong việc tinh lọc các phân tích của Dow và Hamilton qua cuốn sách The Dow Theory. Rhea đã đọc, nghiên cứu và giải mã khoảng 252 bài xã luận mà Dow (1900-1902) và Hamilton (1902-1929) dùng để truyền tải tư duy thị trường của họ. Trong công trình của mình, Rhea cũng trích dẫn lại cuốn The Stock Market Barometer của Hamilton. Nội dung về Lý thuyết Dow trong bài viết này được dựa trên cuốn sách của Rhea, nơi ông đã hệ thống hóa các bài viết của Dow và Hamilton thành một tập hợp các giả định và định lý. Ở những phần tiếp, chúng tôi cũng cố gắng liên hệ thực tế của thị trường ngày nay với Lý thuyết Dow để làm rõ góc nhìn của những bậc tiền bối này.
Những giả định cốt lõi
Trước khi áp dụng Lý thuyết Dow, có một số giả định bạn bắt buộc phải chấp nhận. Rhea khẳng định rằng, để ứng dụng thành công, nhà giao dịch phải tin tưởng những giả định này một cách vô điều kiện.
Không ai có thể thao túng xu hướng chính
Giả định đầu tiên là việc thao túng xu hướng chính (primary trend) là điều bất khả thi. Khi một lượng tiền khổng lồ được đổ vào thị trường, cám dỗ thao túng chắc chắn sẽ xuất hiện. Hamilton không phủ nhận việc các nhà đầu cơ, các chuyên gia hay bất kỳ tay to nào có thể thao túng giá. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng họ không thể thao túng được xu hướng chính của toàn thị trường.
Các biến động trong ngày (intraday), qua từng ngày, và thậm chí là các nhịp điểu chỉnh thứ cấp có thể bị thao túng. Những biến động ngắn hạn này – kéo dài từ vài giờ đến vài tuần – dễ dàng bị tác động bởi các tổ chức lớn, giới đầu cơ, tin tức chấn động hoặc tin đồn. Nếu sống ở thời đại này, có lẽ Hamilton sẽ bổ sung thêm các hội nhóm phím hàng và day-trader vào danh sách này.
Hamilton cũng nói thêm rằng các cổ phiếu riêng lẻ hoàn toàn có thể bị làm giá. Tuy nhiên, kịch bản chung của các vụ thao túng thường có chung một kết cục: giá cổ phiếu bị đẩy lên vút chót vót, sau đó sụp đổ và quay trở lại đúng với xu hướng chính của nó. Một vài ví dụ điển hình:
Cổ phiếu PairGain Technology từng tăng phi mã nhờ một trò lừa đảo đăng trên trang web giả mạo Bloomberg. Tuy nhiên, khi sự thật bị phanh phui, cổ phiếu này lập tức rớt giá thê thảm và quay lại xu hướng chính.
Cổ phiếu Books-A-Million vọt từ 3 lên 47 USD sau khi công bố nâng cấp giao diện website. Ba tuần sau, giá rớt xuống quanh mốc 10 và tiếp tục trượt dài.
Năm 1979/1980, anh em nhà Hunt nỗ lực thao túng giá bạc. Bạc đã tăng vọt lên hơn 50 USD/ounce, để rồi rơi tự do xuống mặt đất và tiếp tục thị trường gấu dài hạn sau khi âm mưu thâu tóm thị trường bị vạch trần.
Dù các cổ phiếu này bị thao túng trong ngắn hạn, nhưng xu hướng dài hạn vẫn làm chủ cuộc chơi sau khoảng một tháng. Hamilton chỉ ra rằng, ngay cả khi các mã riêng lẻ bị làm giá, việc thao túng toàn bộ thị trường là điều gần như bất khả thi. Đơn giản vì thị trường quá khổng lồ để bất cứ ai có thể thao túng được.
Thị trường phản ánh tất cả
Giả định thứ hai là thị trường phản ánh tất cả mọi thông tin hiện có. Bất cứ điều gì có thể biết đều đã được chiết khấu vào đường giá. Giá cả đại diện cho tổng hòa mọi hy vọng, nỗi sợ hãi và kỳ vọng của tất cả thành viên tham gia thị trường. Biến động lãi suất, kỳ vọng lợi nhuận, dự phóng doanh thu, bầu cử Tổng thống, kế hoạch ra mắt sản phẩm và mọi thứ khác đều đã được định giá. Những sự kiện bất ngờ chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng thường chúng chỉ ảnh hưởng đến xu hướng ngắn hạn. Xu hướng chính vẫn sẽ không bị lay chuyển.
Biểu đồ của Coca-Cola (KO) dưới đây là một ví dụ khá gần đây về việc xu hướng chính vẫn được giữ nguyên. Xu hướng giảm của Coca-Cola bắt đầu bằng cú rơi mạnh từ vùng giá trên 90. Cổ phiếu này sau đó có nhịp phục hồi theo nhịp đập chung của thị trường vào tháng 10 và tháng 11 năm 1998, nhưng đến tháng 12 lại tiếp tục sụt giảm. Theo Lý thuyết Dow, nhịp phục hồi tháng 10/tháng 11 được gọi là xu hướng thứ cấp (đi ngược lại xu hướng chính). Rất có thể cổ phiếu này chỉ đang "ăn theo" đà tăng chung của toàn thị trường ở thời điểm đó. Tuy nhiên, khi các chỉ số chính liên tục phá đỉnh vào tháng 12, Coca-Cola lại bắt đầu hụt hơi và quay trở lại xu hướng giảm cốt lõi của nó.
Hamilton lưu ý rằng đôi khi thị trường sẽ phản ứng tiêu cực trước một tin tốt. Theo lý giải của ông, điều này rất đơn giản: thị trường luôn nhìn về phía trước. Vào thời điểm tin tức đến tai đám đông, nó đã phản ánh xong vào giá rồi. Điều này giải thích cho câu ngạn ngữ kinh điển trên Phố Wall: " Mua tin đồn, bán sự thật" (Buy the rumor, sell the news). Khi tin đồn bắt đầu rò rỉ, lực mua sẽ nhảy vào đẩy giá lên. Đến khi tin tức chính thức được công bố, giá đã bị đẩy lên quá cao để phản ánh trọn vẹn tin tức đó. Câu chuyện của Yahoo! (YHOO) trước các kỳ báo cáo thu nhập là một ví dụ mẫu mực. Trong ba quý đầu năm 1999, cổ phiếu YHOO liên tục được bơm thổi ngay sát ngày ra báo cáo. Dù kết quả kinh doanh lần nào cũng vượt kỳ vọng, nhưng cổ phiếu lại bốc hơi khoảng 20% trong cùng khoảng thời gian đó.
Nguồn: Stockcharts
Giới thiệu sách Trading hay
Giao Dịch Theo Xu Hướng Để Kiếm Sống
Sách chia sẻ chiến lược giao dịch, tâm lý, phương pháp quản lý vốn thực chiến của Trader 18 năm kinh nghiệm giao dịch theo xu hướng
Bài viết liên quan