- 19,602
- 89,390
- Thread cover
- data/assets/threadprofilecover/bobvolman-2026-04-17T120409-1776402372.017-1776402372.png
- Chủ đề liên quan
- 23626,23570,1442
Tóm tắt bài trước:
Chỉ số Ease of Movement (EMV) được sử dụng tốt nhất để xác nhận các chỉ báo khác hoặc các mô hình biểu đồ. Nói cách khác, nó không phải là một chỉ báo độc lập. Hãy nhớ rằng phần “Khoảng cách di chuyển” trong công thức là yếu tố quyết định sự tích cực/tiêu cực của xu hướng. EMV thường tích cực khi điểm giữa tăng và tiêu cực khi điểm giữa giảm. Điều này có nghĩa là EMV thường sẽ tăng và giảm cùng với giá của chứng khoán cơ sở. Mức độ tăng hoặc giảm này phụ thuộc vào tỷ lệ Box. Các nhà phân tích biểu đồ có thể sử dụng EMV để xác nhận sự phá vỡ tăng trên giá biểu đồ hoặc tín hiệu xác nhận tăng gía để phối hợp với các chỉ báo khác. Ngược lại, một chuyển động vào vùng âm có thể được sử dụng để xác nhận sự phá vỡ tăng trên biểu đồ giá hoặc tín hiệu xác nhận giảm giá để phối hợp với các chỉ báo khác.
Ví dụ dưới đây cho thấy Mosaic (MOS) với sự phá vỡ giảm giá vào đầu tháng 4 và sự phá vỡ tăng giá vào giữa tháng 6. Trước khi phá vỡ giảm giá, EMV đã xấu đi trong hai tháng và giảm xuống vùng âm vào tháng 3. Với việc cổ phiếu tăng và EMV giảm trong tháng 1-2, đà tăng trở nên khó khăn hơn. MOS đã phá vỡ ngưỡng hỗ trợ với sự sụt giảm vào đầu tháng Tư và EMV đã xác nhận điều này với một đợt giảm xuống vùng âm khác. Sau khi duy trì ở mức âm trong hầu hết tháng Tư và tháng Năm, EMV đã cải thiện từ cuối tháng Năm đến đầu tháng Sáu với một đợt tăng giá. Cổ phiếu này cũng hình thành mô hình vai đầu vai ngược nhỏ và phá vỡ ngưỡng kháng cự ở mức 50 đô la.
Hình 3
Ví dụ thứ hai cho thấy Valero Energy (VLO) với các tín hiệu EMV được xác nhận bởi chỉ số sức mạnh tương đối (RSI) và biểu đồ giá. Sau khi tăng giá từ tháng Giêng đến giữa tháng Ba, VLO đã đảo chiều và phá vỡ ngưỡng hỗ trợ vào cuối tháng Ba. Lưu ý rằng EMV đã phá vỡ mức thấp nhất vào cuối tháng Hai và giảm sâu xuống vùng âm vào cuối tháng Ba. Thêm vào đó, RSI đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu tháng Giêng. Sự đảo chiều thứ hai xảy ra khi VLO phá vỡ ngưỡng kháng cự vào giữa tháng Bảy. EMV bắt đầu cải thiện trước khi đột phá này và đã duy trì ở mức dương mạnh mẽ vào thời điểm đột phá. RSI cũng xác nhận điều này với việc vượt qua mức cao nhất tháng Tư và di chuyển trên mức 55 đô la.
Hình 4
Chỉ số Ease of Movement (EMV) kết hợp hướng giá với khối lượng để tạo ra một bộ dao động động lượng dựa trên khối lượng. Vì nó gắn liền chặt chẽ với sự thay đổi giá, EMV có xu hướng theo sát giá của chứng khoán cơ sở. Phần lớn, EMV được sử dụng để xác nhận các tín hiệu thu được từ biểu đồ giá hoặc các chỉ báo khác. Các nhà phân tích biểu đồ muốn có đường EMV mượt mà hơn có thể kéo dài khoảng thời gian xem xét lại.
- Ease of Movement (EMV) là một chỉ báo dao động dựa trên khối lượng giao dịch, dao động trên và dưới đường số 0. Chỉ báo này được Richard Arms phát triển để đo lường “sự dễ dàng” của chuyển động giá. Arms đã tạo ra biểu đồ EquiVolume để hiển thị trực quan phạm vi giá và khối lượng. Ease of Movement đưa EquiVolume lên một tầm cao mới bằng cách định lượng mối quan hệ giá/khối lượng và hiển thị kết quả dưới dạng một chỉ báo dao động. Giá thường tăng lên một cách tương đối dễ dàng khi chỉ báo nằm trong vùng dương. Ngược lại, giá giảm xuống một cách tương đối dễ dàng khi chỉ báo nằm trong vùng âm.
- Công thức EMV gồm ba phần: khoảng cách di chuyển, khối lượng và phạm vi giá cao-thấp.
Khoảng cách di chuyển so sánh điểm giữa của kỳ hiện tại với điểm giữa của kỳ trước – giá cao cộng với giá thấp chia cho hai. Khoảng cách di chuyển là dương khi điểm giữa hiện tại cao hơn điểm giữa trước và âm khi điểm giữa hiện tại thấp hơn điểm giữa trước. Khoảng cách di chuyển được thể hiện ở tử số trong công thức dưới đây.
Khoảng cách di chuyển = ((H + L)/2 - (Giá cao trước + Giá thấp trước)/2)
Tỷ lệ Box = ((V/100,000,000)/(H - L))
EMV 1 kỳ = ((H + L)/2 - (Giá cao trước + Giá thấp trước)/2) / ((V/100,000,000)/(H - L))
Độ dễ di chuyển 14 kỳ = trung bình động đơn giản 14 kỳ của EMV 1 kỳ
Hai phần còn lại tạo thành tỷ lệ Box, sử dụng khối lượng và phạm vi giá cao-thấp. Biểu đồ EquiVolume cũng dựa trên khối lượng và phạm vi giá cao-thấp. Tỷ lệ Box là mẫu số của EMV. Lưu ý rằng khối lượng được chia cho 100,000,000 để giữ cho nó phù hợp với các số liệu khác.
Khối lượng giao dịch tương đối thấp và biên độ dao động cao-thấp tương đối lớn sẽ tạo ra mẫu số nhỏ hơn (tỷ lệ Box), điều này có nghĩa là giá trị EMV sẽ lớn hơn do phép chia cho một số nhỏ hơn. Tỷ lệ Box sẽ là 0,50 nếu V/10000000 bằng hai và biên độ dao động cao-thấp bằng bốn. Biên độ dao động rộng với khối lượng giao dịch thấp cho thấy giá cả biến động tương đối dễ dàng. Nói cách khác, không cần nhiều khối lượng để làm thay đổi giá.
Biên độ dao động cao-thấp tương đối nhỏ với khối lượng giao dịch cao sẽ tạo ra mẫu số lớn hơn, điều này có nghĩa là giá trị EMV sẽ nhỏ hơn. Mẫu số sẽ là hai nếu V/10000000 bằng bốn và biên độ dao động cao-thấp bằng hai. Điều này ngụ ý rằng giá cả biến động khó khăn hơn vì biên độ dao động cao-thấp tương đối nhỏ với khối lượng giao dịch lớn.
Xác nhận các tín hiệu khác
Chỉ số Ease of Movement (EMV) được sử dụng tốt nhất để xác nhận các chỉ báo khác hoặc các mô hình biểu đồ. Nói cách khác, nó không phải là một chỉ báo độc lập. Hãy nhớ rằng phần “Khoảng cách di chuyển” trong công thức là yếu tố quyết định sự tích cực/tiêu cực của xu hướng. EMV thường tích cực khi điểm giữa tăng và tiêu cực khi điểm giữa giảm. Điều này có nghĩa là EMV thường sẽ tăng và giảm cùng với giá của chứng khoán cơ sở. Mức độ tăng hoặc giảm này phụ thuộc vào tỷ lệ Box. Các nhà phân tích biểu đồ có thể sử dụng EMV để xác nhận sự phá vỡ tăng trên giá biểu đồ hoặc tín hiệu xác nhận tăng gía để phối hợp với các chỉ báo khác. Ngược lại, một chuyển động vào vùng âm có thể được sử dụng để xác nhận sự phá vỡ tăng trên biểu đồ giá hoặc tín hiệu xác nhận giảm giá để phối hợp với các chỉ báo khác.
Ví dụ dưới đây cho thấy Mosaic (MOS) với sự phá vỡ giảm giá vào đầu tháng 4 và sự phá vỡ tăng giá vào giữa tháng 6. Trước khi phá vỡ giảm giá, EMV đã xấu đi trong hai tháng và giảm xuống vùng âm vào tháng 3. Với việc cổ phiếu tăng và EMV giảm trong tháng 1-2, đà tăng trở nên khó khăn hơn. MOS đã phá vỡ ngưỡng hỗ trợ với sự sụt giảm vào đầu tháng Tư và EMV đã xác nhận điều này với một đợt giảm xuống vùng âm khác. Sau khi duy trì ở mức âm trong hầu hết tháng Tư và tháng Năm, EMV đã cải thiện từ cuối tháng Năm đến đầu tháng Sáu với một đợt tăng giá. Cổ phiếu này cũng hình thành mô hình vai đầu vai ngược nhỏ và phá vỡ ngưỡng kháng cự ở mức 50 đô la.
Hình 3
Ví dụ thứ hai cho thấy Valero Energy (VLO) với các tín hiệu EMV được xác nhận bởi chỉ số sức mạnh tương đối (RSI) và biểu đồ giá. Sau khi tăng giá từ tháng Giêng đến giữa tháng Ba, VLO đã đảo chiều và phá vỡ ngưỡng hỗ trợ vào cuối tháng Ba. Lưu ý rằng EMV đã phá vỡ mức thấp nhất vào cuối tháng Hai và giảm sâu xuống vùng âm vào cuối tháng Ba. Thêm vào đó, RSI đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu tháng Giêng. Sự đảo chiều thứ hai xảy ra khi VLO phá vỡ ngưỡng kháng cự vào giữa tháng Bảy. EMV bắt đầu cải thiện trước khi đột phá này và đã duy trì ở mức dương mạnh mẽ vào thời điểm đột phá. RSI cũng xác nhận điều này với việc vượt qua mức cao nhất tháng Tư và di chuyển trên mức 55 đô la.
Hình 4
Kết luận
Chỉ số Ease of Movement (EMV) kết hợp hướng giá với khối lượng để tạo ra một bộ dao động động lượng dựa trên khối lượng. Vì nó gắn liền chặt chẽ với sự thay đổi giá, EMV có xu hướng theo sát giá của chứng khoán cơ sở. Phần lớn, EMV được sử dụng để xác nhận các tín hiệu thu được từ biểu đồ giá hoặc các chỉ báo khác. Các nhà phân tích biểu đồ muốn có đường EMV mượt mà hơn có thể kéo dài khoảng thời gian xem xét lại.
Nguồn: Stockcharts
Giới thiệu sách Trading hay
Thực Hành Phân tích Fibonacci
Tác giả sách là cựu trader quản lý quỹ kiêm học giả CMT. Sách đoạt giải và được xuất bản bởi Bloomberg Press. Sách khái quát từ cơ bản đến chuyên sâu về FIbonacci Trading
Chỉnh sửa lần cuối:
Bài viết liên quan
Trader ưu tú!!!
bởi namthang,