- 19,604
- 89,390
- Thread cover
- data/assets/threadprofilecover/bobvolman-2026-04-18T115521-1776488155.648-1776488155.png
- Chủ đề liên quan
- 42458,42205,86120,85122,88250,
Tóm tắt bài trước:
Force Index là một chỉ báo sử dụng giá và khối lượng để đánh giá sức mạnh đằng sau một chuyển động hoặc xác định các điểm đảo chiều tiềm năng. Được phát triển bởi Alexander Elder, Force Index được giới thiệu trong cuốn sách kinh điển của ông: "Giao dịch để kiếm sống". Theo Elder, có ba yếu tố thiết yếu đối với chuyển động giá của một cổ phiếu: hướng, phạm vi và khối lượng. Force Index kết hợp cả ba yếu tố này như một bộ dao động, biến động trong vùng tích cực và tiêu cực khi cán cân quyền lực thay đổi. Force Index có thể được sử dụng để củng cố xu hướng tổng thể, xác định các điều chỉnh có thể giao dịch hoặc báo trước sự đảo chiều với sự phân kỳ.
Force Index(1) = {Giá đóng cửa (kỳ hiện tại) - Giá đóng cửa (kỳ trước)} x Khối lượng
Force Index(13) = EMA 13 kỳ của Chỉ số Lực(1)
Cách tính Force Index 1 kỳ rất đơn giản. Chỉ cần trừ giá đóng cửa kỳ trước khỏi giá đóng cửa kỳ hiện tại và nhân với khối lượng. Force Index cho nhiều hơn một ngày chỉ đơn giản là trung bình động hàm mũ của Chỉ số Lực 1 kỳ. Ví dụ, Chỉ số Lực 13 kỳ là đường trung bình động hàm mũ ( EMA) 13 kỳ của các giá trị Force Index 1 kỳ trong 13 kỳ gần nhất.
Ba yếu tố ảnh hưởng đến giá trị Force Index.
- Thứ nhất, Force Index dương khi giá đóng cửa hiện tại cao hơn giá đóng cửa trước đó. Force Index âm khi giá đóng cửa hiện tại thấp hơn giá đóng cửa trước đó.
- Thứ hai, mức độ biến động quyết định hệ số nhân khối lượng. Biến động lớn hơn dẫn đến hệ số nhân lớn hơn, ảnh hưởng đến Force Index tương ứng. Biến động nhỏ hơn tạo ra hệ số nhân nhỏ hơn, làm giảm ảnh hưởng.
- Thứ ba, khối lượng đóng vai trò quan trọng. Biến động lớn với khối lượng lớn tạo ra giá trị Force Index cao. Biến động nhỏ với khối lượng thấp tạo ra giá trị Force Index tương đối thấp. Bảng dưới đây cho thấy cách tính Force Index của Pfizer (PFE). Dòng 27 đánh dấu biến động lớn nhất (+84 cent) và khối lượng lớn nhất (162.619). Sự kết hợp này tạo ra giá trị Chỉ số Lực lớn nhất trong bảng (136.600).
Bảng 1 - Bảng tính Force Index
Biểu đồ trên cho thấy Chỉ số Lực đang hoạt động. Hãy chú ý cách chỉ số Force Index kỳ 1 dao động trên/dưới đường số 0 và trông khá gập ghềnh. Elder khuyến nghị làm mịn chỉ báo bằng đường EMA kỳ 13 để giảm các điểm giao nhau dương-âm. Các nhà phân tích biểu đồ nên thử nghiệm với các kỳ làm mịn khác nhau để xác định kỳ nào phù hợp nhất với nhu cầu phân tích của họ.
Biểu đồ 1 - Force Index
- Ease of Movement (EMV) là một chỉ báo dao động dựa trên khối lượng giao dịch, dao động trên và dưới đường số 0. Chỉ báo này được Richard Arms phát triển để đo lường “sự dễ dàng” của chuyển động giá. Arms đã tạo ra biểu đồ EquiVolume để hiển thị trực quan phạm vi giá và khối lượng. Ease of Movement đưa EquiVolume lên một tầm cao mới bằng cách định lượng mối quan hệ giá/khối lượng và hiển thị kết quả dưới dạng một chỉ báo dao động. Giá thường tăng lên một cách tương đối dễ dàng khi chỉ báo nằm trong vùng dương. Ngược lại, giá giảm xuống một cách tương đối dễ dàng khi chỉ báo nằm trong vùng âm.
- Công thức EMV gồm ba phần: khoảng cách di chuyển, khối lượng và phạm vi giá cao-thấp.
Khoảng cách di chuyển so sánh điểm giữa của kỳ hiện tại với điểm giữa của kỳ trước – giá cao cộng với giá thấp chia cho hai. Khoảng cách di chuyển là dương khi điểm giữa hiện tại cao hơn điểm giữa trước và âm khi điểm giữa hiện tại thấp hơn điểm giữa trước. Khoảng cách di chuyển được thể hiện ở tử số trong công thức dưới đây.
Khoảng cách di chuyển = ((H + L)/2 - (Giá cao trước + Giá thấp trước)/2)
Tỷ lệ Box = ((V/100,000,000)/(H - L))
EMV 1 kỳ = ((H + L)/2 - (Giá cao trước + Giá thấp trước)/2) / ((V/100,000,000)/(H - L))
Độ dễ di chuyển 14 kỳ = trung bình động đơn giản 14 kỳ của EMV 1 kỳ
Hai phần còn lại tạo thành tỷ lệ Box, sử dụng khối lượng và phạm vi giá cao-thấp. Biểu đồ EquiVolume cũng dựa trên khối lượng và phạm vi giá cao-thấp. Tỷ lệ Box là mẫu số của EMV. Lưu ý rằng khối lượng được chia cho 100,000,000 để giữ cho nó phù hợp với các số liệu khác.
Khối lượng giao dịch tương đối thấp và biên độ dao động cao-thấp tương đối lớn sẽ tạo ra mẫu số nhỏ hơn (tỷ lệ Box), điều này có nghĩa là giá trị EMV sẽ lớn hơn do phép chia cho một số nhỏ hơn. Tỷ lệ Box sẽ là 0,50 nếu V/10000000 bằng hai và biên độ dao động cao-thấp bằng bốn. Biên độ dao động rộng với khối lượng giao dịch thấp cho thấy giá cả biến động tương đối dễ dàng. Nói cách khác, không cần nhiều khối lượng để làm thay đổi giá.
Biên độ dao động cao-thấp tương đối nhỏ với khối lượng giao dịch cao sẽ tạo ra mẫu số lớn hơn, điều này có nghĩa là giá trị EMV sẽ nhỏ hơn. Mẫu số sẽ là hai nếu V/10000000 bằng bốn và biên độ dao động cao-thấp bằng hai. Điều này ngụ ý rằng giá cả biến động khó khăn hơn vì biên độ dao động cao-thấp tương đối nhỏ với khối lượng giao dịch lớn. - Chỉ số Ease of Movement (EMV) được sử dụng tốt nhất để xác nhận các chỉ báo khác hoặc các mô hình biểu đồ. Nói cách khác, nó không phải là một chỉ báo độc lập. Hãy nhớ rằng phần “Khoảng cách di chuyển” trong công thức là yếu tố quyết định sự tích cực/tiêu cực của xu hướng. EMV thường tích cực khi điểm giữa tăng và tiêu cực khi điểm giữa giảm. Điều này có nghĩa là EMV thường sẽ tăng và giảm cùng với giá của chứng khoán cơ sở. Mức độ tăng hoặc giảm này phụ thuộc vào tỷ lệ Box. Các nhà phân tích biểu đồ có thể sử dụng EMV để xác nhận sự phá vỡ tăng trên giá biểu đồ hoặc tín hiệu xác nhận tăng gía để phối hợp với các chỉ báo khác. Ngược lại, một chuyển động vào vùng âm có thể được sử dụng để xác nhận sự phá vỡ tăng trên biểu đồ giá hoặc tín hiệu xác nhận giảm giá để phối hợp với các chỉ báo khác.
- Tóm lại, Chỉ số Ease of Movement (EMV) kết hợp hướng giá với khối lượng để tạo ra một bộ dao động động lượng dựa trên khối lượng. Vì nó gắn liền chặt chẽ với sự thay đổi giá, EMV có xu hướng theo sát giá của chứng khoán cơ sở. Phần lớn, EMV được sử dụng để xác nhận các tín hiệu thu được từ biểu đồ giá hoặc các chỉ báo khác. Các nhà phân tích biểu đồ muốn có đường EMV mượt mà hơn có thể kéo dài khoảng thời gian xem xét lại.
Force Index là gì?
Force Index là một chỉ báo sử dụng giá và khối lượng để đánh giá sức mạnh đằng sau một chuyển động hoặc xác định các điểm đảo chiều tiềm năng. Được phát triển bởi Alexander Elder, Force Index được giới thiệu trong cuốn sách kinh điển của ông: "Giao dịch để kiếm sống". Theo Elder, có ba yếu tố thiết yếu đối với chuyển động giá của một cổ phiếu: hướng, phạm vi và khối lượng. Force Index kết hợp cả ba yếu tố này như một bộ dao động, biến động trong vùng tích cực và tiêu cực khi cán cân quyền lực thay đổi. Force Index có thể được sử dụng để củng cố xu hướng tổng thể, xác định các điều chỉnh có thể giao dịch hoặc báo trước sự đảo chiều với sự phân kỳ.
Cách tính Chỉ số Lực
Force Index(1) = {Giá đóng cửa (kỳ hiện tại) - Giá đóng cửa (kỳ trước)} x Khối lượng
Force Index(13) = EMA 13 kỳ của Chỉ số Lực(1)
Cách tính Force Index 1 kỳ rất đơn giản. Chỉ cần trừ giá đóng cửa kỳ trước khỏi giá đóng cửa kỳ hiện tại và nhân với khối lượng. Force Index cho nhiều hơn một ngày chỉ đơn giản là trung bình động hàm mũ của Chỉ số Lực 1 kỳ. Ví dụ, Chỉ số Lực 13 kỳ là đường trung bình động hàm mũ ( EMA) 13 kỳ của các giá trị Force Index 1 kỳ trong 13 kỳ gần nhất.
Ba yếu tố ảnh hưởng đến giá trị Force Index.
- Thứ nhất, Force Index dương khi giá đóng cửa hiện tại cao hơn giá đóng cửa trước đó. Force Index âm khi giá đóng cửa hiện tại thấp hơn giá đóng cửa trước đó.
- Thứ hai, mức độ biến động quyết định hệ số nhân khối lượng. Biến động lớn hơn dẫn đến hệ số nhân lớn hơn, ảnh hưởng đến Force Index tương ứng. Biến động nhỏ hơn tạo ra hệ số nhân nhỏ hơn, làm giảm ảnh hưởng.
- Thứ ba, khối lượng đóng vai trò quan trọng. Biến động lớn với khối lượng lớn tạo ra giá trị Force Index cao. Biến động nhỏ với khối lượng thấp tạo ra giá trị Force Index tương đối thấp. Bảng dưới đây cho thấy cách tính Force Index của Pfizer (PFE). Dòng 27 đánh dấu biến động lớn nhất (+84 cent) và khối lượng lớn nhất (162.619). Sự kết hợp này tạo ra giá trị Chỉ số Lực lớn nhất trong bảng (136.600).
Bảng 1 - Bảng tính Force Index
Biểu đồ trên cho thấy Chỉ số Lực đang hoạt động. Hãy chú ý cách chỉ số Force Index kỳ 1 dao động trên/dưới đường số 0 và trông khá gập ghềnh. Elder khuyến nghị làm mịn chỉ báo bằng đường EMA kỳ 13 để giảm các điểm giao nhau dương-âm. Các nhà phân tích biểu đồ nên thử nghiệm với các kỳ làm mịn khác nhau để xác định kỳ nào phù hợp nhất với nhu cầu phân tích của họ.
Biểu đồ 1 - Force Index
Giới thiệu sách Trading hay
Khám phá Nghệ thuật Giao dịch Tiền tệ Chuyên nghiệp
Sách được viết bởi FX Trader chuyên nghiệp, có gần 30 năm giao dịch Forex cho các ngân hàng lớn thế giới như Citi, Nomura hay HSBC, đồng thời từng trading cho quỹ đầu cơ có vốn hàng chục triệu đô la
Bài viết liên quan