Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 437): Chỉ báo Negative Volume Index (NVI)

Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 437): Chỉ báo Negative Volume Index (NVI)

Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 437): Chỉ báo Negative Volume Index (NVI)

Mạc An

Junior Mod
Thành viên BQT
Trial mod
19,712
89,528
Thread cover
data/assets/threadprofilecover/bobvolman-2026-05-10T095311-1778381610.973-1778381610.png
Chủ đề liên quan
45555,96098
Tóm tắt bài trước:
  • Chỉ số dòng tiền (MFI) là một chỉ báo dao động sử dụng giá và khối lượng để đo lường áp lực mua và bán. Được tạo ra bởi Gene Quong và Avrum Soudack, MFI còn được biết đến với tên gọi Chỉ số sức mạnh tương đối (RSI) có trọng số theo khối lượng.
  • MFI bắt đầu với giá trung bình cho mỗi kỳ. Dòng tiền dương khi giá trung bình tăng (áp lực mua) và âm khi giá trung bình giảm (áp lực bán). Tỷ lệ giữa dòng tiền dương và âm sau đó được đưa vào công thức RSI để tạo ra một chỉ báo dao động trong khoảng từ 0 đến 100. Là một chỉ báo động lượng gắn liền với khối lượng, MFI phù hợp nhất để xác định các điểm đảo chiều và các mức giá cực trị với nhiều tín hiệu.
  • Có một số bước liên quan đến việc tính toán MFI. Ví dụ dưới đây dựa trên MFI 14 kỳ, đây là cài đặt mặc định trong SharpCharts và là cài đặt được những người tạo ra nó khuyến nghị, "giá điển hình" là 1 tên riêng để rút gọn thay vì để công thức.
    Giá điển hình = (Cao nhất + Thấp nhất + Đóng cửa)/3
    Dòng tiền thô = Giá điển hình x Khối lượng
    Tỷ lệ dòng tiền = (Dòng tiền dương trong 14 kỳ)/(Dòng tiền âm trong 14 kỳ)
    Chỉ số dòng tiền = 100 - 100/(1 + Tỷ lệ dòng tiền)
    Trước tiên, hãy lưu ý rằng Dòng tiền thô về cơ bản là khối lượng giao dịch bằng đô la vì nó có công thức là khối lượng nhân với giá điển hình. Dòng tiền thô dương khi giá điển hình tăng từ kỳ này sang kỳ tiếp theo và âm khi giá điển hình giảm. Giá trị Dòng tiền thô không được sử dụng khi giá điển hình không thay đổi. Tỷ lệ dòng tiền ở bước 3 tạo thành cơ sở cho Chỉ số dòng tiền.
    Dòng tiền dương và âm được cộng lại trong kỳ xem xét (14) và tổng Dòng tiền dương được chia cho tổng Dòng tiền âm để tạo ra tỷ lệ. Sau đó, công thức RSI được áp dụng để tạo ra một chỉ báo có trọng số theo khối lượng.
  • Là phiên bản có trọng số khối lượng của RSI, Chỉ số Dòng tiền (MFI) có thể được giải thích tương tự như RSI. Sự khác biệt lớn nhất, tất nhiên, là khối lượng. Vì khối lượng được thêm vào, Chỉ số Dòng tiền sẽ hoạt động khác với RSI. Các lý thuyết cho rằng khối lượng dẫn dắt giá. RSI là một chỉ báo động lượng đi trước giá. Quong và Soudack đã xác định ba tín hiệu cơ bản bằng cách sử dụng MFI. Đó là:
    Mức quá mua hoặc quá bán có thể cảnh báo về các mức giá đã vào giai đoạn "cực đoan" không bền vững.
    Sự phân kỳ tăng và giảm có thể được sử dụng để dự đoán sự đảo chiều xu hướng.
    Các dao động thất bại ở mức 80 hoặc 20 cũng có thể được sử dụng để xác định khả năng đảo chiều giá.
  • Mức quá mua và quá bán có thể được sử dụng để xác định các mức giá cực đoan không bền vững. Thông thường, chỉ số MFI trên 80 được coi là quá mua và chỉ số MFI dưới 20 được coi là quá bán. Các xu hướng mạnh có thể gây ra vấn đề đối với các mức quá mua và quá bán kinh điển này. MFI có thể trở nên quá mua (>80) và giá có thể tiếp tục tăng khi xu hướng tăng mạnh. Ngược lại, MFI có thể trở nên quá bán (<20) và giá có thể tiếp tục giảm khi xu hướng giảm mạnh. Quong và Soudack khuyến nghị mở rộng các mức cực đoan này để xác định rõ hơn các tín hiệu. Một mức tăng trên 90 thực sự là quá mua, và một mức giảm dưới 10 thực sự là quá bán. Các mức tăng trên 90 và dưới 10 là những trường hợp hiếm gặp cho thấy sự biến động giá không bền vững. Phải thừa nhận rằng, nhiều cổ phiếu sẽ giao dịch trong một thời gian dài mà không đạt đến các mức cực đoan 90/10. Tuy nhiên, bạn có thể sử dụng công cụ quét của StockCharts.com để tìm những cổ phiếu đạt đến mức này.
  • Cả tín hiệu dao động thất bại và phân kỳ đều có thể được sử dụng để xác định khả năng đảo chiều giá.
    Phân kỳ tăng giá hình thành khi giá di chuyển xuống mức đáy thấp hơn, nhưng chỉ báo tạo ra mức đáy cao hơn để cho thấy dòng tiền hoặc động lượng đang được cải thiện. Tín hiệu Dao động thất bại tăng giá xảy ra khi MFI bị quá bán, giảm xuống dưới 20, tăng vọt lên trên 20, giữ vững trên 20 trong một đợt điều chỉnh giảm, và sau đó phá vỡ mức đỉnh trước đó. Cả hai đều là tín hiệu tăng giá khi xảy ra trong xu hướng giảm, cho thấy khả năng đảo chiều xu hướng.
    Ngược lại, phân kỳ giảm giá hình thành khi cổ phiếu tạo ra mức đỉnh cao hơn và chỉ báo tạo ra mức đỉnh thấp hơn, cho thấy dòng tiền hoặc động lượng đang suy yếu. Dao động thất bại giảm giá xảy ra khi MFI bị mua quá mức trên 80, giảm mạnh xuống dưới 80, không vượt quá 80 trong một đợt bật lên và sau đó phá vỡ mức đáy phản ứng trước đó. Cả hai đều là tín hiệu giảm giá khi xảy ra trong xu hướng tăng, báo trước khả năng đảo chiều xu hướng.
    Mặc dù các tín hiệu dao động thất bại và phân kỳ riêng lẻ đều là những tín hiệu hợp lệ, nhưng khi cả hai xảy ra cùng một lúc, đó là một tín hiệu mạnh hơn nhiều so với chỉ một trong hai.

Chỉ báo Negative Volume Index (NVI) là gì?


Chỉ báoNegative Volume Index (NVI) là một chỉ báo tích lũy sử dụng sự thay đổi về khối lượng để xác định khi nào dòng tiền thông minh hoạt động. Paul Dysart là người đầu tiên phát triển chỉ báo này vào những năm 1930. Chỉ số Chỉ báoNegative Volume Index (NVI) của Dysart hoạt động dựa trên giả định rằng dòng tiền thông minh hoạt động vào những ngày khối lượng giảm và dòng tiền không thông minh (dump monney) hoạt động vào những ngày khối lượng tăng.

Cách tính toán của SharpCharts


Có hai phiên bản của Chỉ báo Negative Volume Index (NVI). Trong phiên bản gốc, Dysart đã tạo ra một đường tích lũy bằng cách cộng thêm Số lượng Cổ phiếu Tăng Giá Ròng khi khối lượng giảm từ kỳ này sang kỳ khác. Số lượng Cổ phiếu Tăng Giá Ròng bằng số lượng cổ phiếu tăng giá trừ đi số lượng cổ phiếu giảm giá. Đường NVI tích lũy không thay đổi khi khối lượng tăng từ kỳ này sang kỳ khác (nói cách khác, không có gì xảy ra). Norman Fosback (tác giả của cuốn "Logic Thị trường Chứng khoán") đã điều chỉnh chỉ báo bằng cách thay thế phần trăm thay đổi giá cho Số lượng Cổ phiếu Tăng Giá Ròng. Công thức của SharpCharts sử dụng phiên bản này của Fosback.

1. Negative Volume Index (NVI) tích lũy bắt đầu từ 1000

2. Cộng thêm phần trăm thay đổi giá vào Negative Volume Index (NVI) khi khối lượng giảm

3. Negative Volume Index (NVI) tích lũy không thay đổi khi khối lượng tăng

4. Áp dụng đường EMA 255 ngày cho các tín hiệu

1778381248734.png

Biểu đồ 1​

Ví dụ bảng tính cho thấy chi tiết cách tính toán. Phần trăm thay đổi giá được nhân với 100 để giảm số lượng chữ số thập phân cần thiết. Trước tiên, hãy chú ý đến cột Phần trăm thay đổi khối lượng. Khi giá trị này âm, phần trăm thay đổi của S&P 500 được nhập vào cột Giá trị NVI. Khi giá trị này dương, không có gì xuất hiện cho Giá trị NVI. Bắt đầu từ 1000, các Giá trị NVI được áp dụng mỗi kỳ để tạo ra một chỉ báo tích lũy chỉ thay đổi khi khối lượng giảm.

1778381302397.png

Bảng tính 1​

Nguồn: Stockcharts
 
 

Giới thiệu sách Trading hay
Mô Hình Biểu Đồ - Phương Pháp Hiệu Quả Để Tìm Kiếm Lợi Nhuận

Được xem là cẩm nang về mô hình biểu đồ của các nhà đầu tư, giao dich tài chính toàn cầu và là kiến thức bắt buộc phải nắm về Phân Tích Kỹ Thuật

BÌNH LUẬN MỚI NHẤT

AdBlock Detected

We get it, advertisements are annoying!

Sure, ad-blocking software does a great job at blocking ads, but it also blocks useful features of our website. For the best site experience please disable your AdBlocker.

Back
Bên trên

Miễn trừ trách nhiệm

Tất cả nội dung trên website này đều vì mục đích cung cấp thông tin và không phải lời khuyên đầu tư.

Tại Việt Nam, giao dịch CFD forex có các rủi ro nhất định, trong đó bao gồm rủi ro về pháp lý. Độc giả nên tìm hiểu kỹ trước khi đưa ra quyết định tham gia.